Wednesday, May 18, 2022
No menu items!
Home Blog

Thoát khỏi căn bệnh u xương ăn mòn và thần tích triển hiện

0

Vào năm 2011, hai chân tôi xuất hiện những cơn đau nhức, khiến tôi đi lại rất khó khăn. Rồi đến một ngày, tôi vô tình trượt ngã. Cú ngã không hề mạnh, nhưng không hiểu sao tôi lại bị vỡ xương khớp háng. Tôi đến ra bệnh viện Hải Dương khám, chụp cộng hưởng từ thì phát hiện xương đùi, khớp háng đều bị mòn đi và vỡ. Các bác sĩ nói với tôi rằng họ chưa từng gặp căn bệnh này bao giờ.

Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1990, quê tại Bình Giang, Hải Dương. Số điện thoại của tôi là 0987 269 213

Một cuốn sách vô giá giúp tôi thoát khỏi ung thư tuyến giáp hạch

0

Cách đây 20 năm, tôi mắc một căn bệnh được coi là vô phương cứu chữa, đó là Ung thư tuyến giáp hạch. Khi nghe tin dữ, tôi bàng hoàng sửng sốt, không thể tin vào tai mình, cảm giác như rơi vào vực thẳm khi bao nhiêu ước mơ tuổi trẻ đều tan vỡ.

Trần Thanh Minh, sinh năm: 1976. Quê tôi ở thôn Phú Mỹ, xã Xuân Phương, Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Số điện thoại của tôi là 0387 478 110

Từng bị tai biến gây liệt tứ chi, tôi đã tái sinh nhờ …

0

Nhiều năm công tác trong ngành Y, tôi đã từng chứng kiến bao người phải khổ đau vì bệnh tật, nhưng tôi chưa từng nghĩ đến một ngày, chính mình cũng lâm vào tình cảnh khốn đốn tương tự.

Cao Thị Minh, sinh năm 1964. Tôi sống tại quận 2, thành phố Hồ Chí Minh. Số điện thoại của tôi là 093 883 0425

Hành trình chữa bệnh sỏi thận của tôi

0

Trước đây, cũng như nhiều người ở độ tuổi trung niên, tôi mang trong mình nhiều chứng bệnh. Tôi bị viêm loét dạ dày, trĩ ngoại, sỏi thận, và mất ngủ. 

Chứng mất ngủ khiến tôi khổ sở vì nhiều đêm thức trắng, không thể chợp mắt được, nên đến sáng hôm sau, tôi trở nên đờ đẫn, không tỉnh táo, mất tập trung, ảnh hưởng rất nhiều đến công việc.

Nguyễn Hồng Hà, sống tại Hà Tĩnh, Việt Nam. Tôi là một cựu quân nhân chuyên nghiệp, hàm trung tá.

Suy kiệt vì viêm khớp, Thầy giáo hồi sinh nhờ một phép màu

Năm tôi học lớp 9, một ngày, tôi thấy đau ở chân, chỗ đầu gối. Tôi đi lại khó khăn vì đau. Dần dần, cơn đau lan lên phía lưng và hành hạ tôi mỗi ngày. Có khi đau quá, tôi đành xin nghỉ học, chờ đến lúc dễ chịu hơn thì quay lại trường.

Nguyễn Hiếu, năm nay tôi 32 tuổi. Hiện tôi là giáo viên dạy toán tin. Tôi sống ở thành phố Pleiku, Gia Lai. Số điện thoại của tôi là  0975 034 734.

Bệnh viêm đại tràng mãn tính của tôi đã biến mất – Như một phép màu

Nguyễn Thị Minh, sinh năm 1969, sống tại Chương Mỹ, Hà Nội. Trước đây, tôi mang trên mình nhiều chứng bệnh. Có những căn bệnh đã theo tôi hơn 30 năm nay, đó là viêm đại tràng mãn tính và bệnh mất ngủ.

Bệnh gout – Tôi đã thoát khỏi như thế nào ?

Bệnh gout là một căn bệnh khiến toàn thân đau nhức, ăn uống phải kiêng khem nhiều thứ, cũng như mang đến những bất tiện cho người bệnh, nhưng hiện nay vẫn chưa có phương pháp chữa trị hoàn toàn. Tuy vậy, một doanh nhân sống tại Bình Dương đã may mắn thoát khỏi căn bệnh này.

Trịnh Đình Thắng. Số điện thoại: 0976928182. Hiện tôi sống ở Bình Dương

Bệnh Tăng động – con tôi khỏi nhờ một quyển Thiên Thư

Con trai tôi tên là Nguyễn Minh Quân, cháu sinh năm 2010. Trong khi mang thai, chẳng may tôi bị tiểu đường thai nghén, nên cháu sinh ra thiếu tháng, vì thế sức khỏe cháu kém hơn các bạn. Từ nhỏ cháu đã mắc nhiều chứng bệnh, nào là nôn trớ do trào ngược, nào là vấn đề về đường ruột, rồi cả viêm phổi, viêm phế quản mãn tính

Tôi tên Lê Thị Hảo. Số điện thoại của tôi là: 0984.022.146. Tôi muốn kể cho mọi người câu chuyện về con trai tôi với mong muốn chia sẻ điều tốt lành mà cháu và cả gia đình tôi đã nhận được, đến với tất cả mọi người.

Bệnh teo cơ phục hồi thần kỳ

Khi mới chào đời được 3 tháng, tôi bị một cơn sốt cao dẫn đến co giật. Sau đó, tôi bị teo cơ hết nửa người bên trái.
Lê Thị Nga, sinh năm 1989. Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đất Thanh Hóa.

[Phim ngắn] Thời khắc nguy nan – In Time Of Crisis – 危難時刻

0

Phim được thực hiện dựa trên câu chuyện có thật của một gia đình ở Vũ Hán. Mùa xuân năm Canh Tý 2020, chỉ trong vòng 2 tháng, một loại virus nguy hiểm bắt nguồn từ Vũ Hán, Trung Quốc đã lây lan với tốc độ chóng mặt đến hàng triệu hộ gia đình thuộc 9 tỉnh thành ở Trung Quốc, nơi đây bỗng chốc lâm vào cảnh “địa ngục trần gian”.

Đảng cộng sản Trung Quốc vì để phong tỏa tin tức mà không ngừng bắt bớ những người dám truyền bá sự thật, khiến cho mọi người đều cảm thấy sợ hãi, nguy hiểm bất an. Ở một thị trấn nhỏ nằm gần Vũ Hán, có một gia đình cả nhà 6 người đều bị nhiễm virus, đã không được chữa trị y tế, lại còn bị cảnh sát giam nhốt trong nhà. Đúng vào lúc vô vọng nhất, khi trong nhà chẳng còn chút gì để ăn và bị cô lập hoàn toàn, một cô gái trẻ đã đến và thay đổi vận mệnh của cả gia đình họ.

Văn hóa Thần truyền: Nhận thức của Hoàng đế Khang Hy khi động đất xảy ra

0

Vào giữa trưa ngày 2 tháng 9 năm 1679, một trận động đất kinh hoàng đã xảy ra tại kinh thành. Trận động đất này mạnh cấp 8, tâm chấn nằm tại Bình Cốc, Tam Hà. Động đất ảnh hưởng đến một phạm vi rất rộng lớn gồm 6 tỉnh: Hà Bắc, Sơn Tây, Thiểm Tây, Liêu Ninh, Sơn Đông, Hà Nam cùng với hơn 200 châu huyện khác nhau. Tại kinh thành nhiều đoạn tường thành, các trụ sở chính quyền, nhiều nhà dân đều bị đổ sập, rất nhiều người chết và bị thương.

Tác phẩm tranh tường lớn trên một hành lang trong cung điện : “Khang Hy Nam tuần đồ”

Đối với thiên tai bất ngờ này, Vua Khang Hy nhanh chóng áp dụng nhiều biện pháp khắc phục. Một mặt ông lấy 10 vạn lượng bạc trong kho bạc nhà nước để cứu trợ nạn dân. Mặt khác ông kêu gọi các quan lại và người giàu quyên góp tiền của để cứu trợ. Nhưng trên hết, ông ra lệnh cho quan lại lớn bé trong triều phải nghiêm chỉnh kiểm điểm lại bản thân và các công tác của mình một cách toàn diện. Ông tự mình làm gương “biết kinh sợ” và “cố gắng tu tỉnh”, đồng thời yêu cầu các quan phải “nhất định sẽ nhổ tận gốc các tệ nạn xã hội đã kéo dài bấy lâu nay”. “Các khanh cần phải thanh tẩy từ bản chất, công chính tự thề với bản thân mình, ra sức cải đổi những điều sai trái của bản thân, nuôi tâm chí vì nhân dân và tổ quốc”.

Chưa đầy 4 tiếng sau khi động đất, vua Khang Hy ra lệnh triệu tập “Nội các, các quan Cửu khanh, chiêm sự, khoa, quan lại Mãn Hán”, còn cho gọi các đại học sỹ Minh Châu, Lý Úy tới cung Càn Thanh, nghiêm khắc căn dặn và phê bình mấy viên quan “Từ lúc được bổ nhiệm tới nay, sinh kế quá đầy đủ, hoàn toàn chẳng còn chút tâm đền ơn báo quốc”, chẳng những không thanh liêm chuyên cần mà ngược lại hành vi “càng thêm tham lam vô độ, đã thành thói quen” rồi. Vua còn tỏ rõ quyết tâm: nếu những loại người “gian ác” như thế không “cố gắng tỉnh ngộ và thay đổi”, một khi bị điều tra ra được, thì “hoàn toàn chiếu theo quốc pháp, quyết không tha thứ”.

Vài ngày sau, Khang Hy lại một lần nữa triệu tập “Các quan lại người Mãn người Hán, trên từ quan Học sỹ xuống dưới tới quan Phó đô ngự sử” ra cửa Tả dực môn, cho người truyền chỉ thị, tuyên bố rõ 6 điều tệ nạn trong việc chính sự mà ông nhận thấy:

Một là: Các cấp quan lại cai trị hà khắc và bắt dân chúng phải lao dịch nặng nề, vơ vét của dân cho đầy túi tham khiến nhân dân khốn khổ.

Hai là: Có rất nhiều quan đại thần vì tư lợi mà làm trái phép công.

Ba là: Trong lúc dùng binh, tùy tiện giết người đốt nhà cướp bóc của người dân vô tội.

Bốn là: Quan lại địa phương đối với những điều khốn khổ của nhân dân thì không dâng sớ tâu trình phản ánh. Còn đối với việc cứu trợ cho dân chúng những lúc thiên tai hạn hán thì xâm phạm cướp đoạt bừa bãi, báo cáo giả dối, nhân dân trong thực tế không được hưởng sự cứu trợ của nhà nước.

Năm là: hình phạt tù ngục bất công, nhiều vụ án tồn đọng không xem xét giải quyết.

Sáu là: Người nhà và nô bộc của nhiều Vương Công đại thần chiếm đoạt lợi ích của dân đen, can thiệp vào việc kiện cáo tố tụng, làm càn bậy coi thường pháp luật. Khang Hy yêu cầu các quan đại thần phải đề xuất các biện pháp cụ thể để nghiêm cấm 6 loại tệ nạn như trên. Ông đặc biệt nhấn mạnh: muốn loại trừ được tệ nạn, thì mấu chốt là các quan lớn phải làm gương mẫu trước tiên, bởi vì “Quan đại thần liêm chính, thì các quan Tổng đốc, Tuần phủ mới kiêng sợ, không dám vì việc tư lợi mà làm trái pháp luật. Tổng đốc, Tuần phủ thanh liêm chính trực, thì quan lại cấp dưới tự nhiên sẽ có phẩm hạnh trong sạch, tuy chỉ có một chút lỗi lầm thiếu sót cũng nhất định lo lắng và tu chỉnh, không gây ra những việc tổn hại nặng nề cho dân chúng”.

Các quan Đại thần căn cứ theo lệnh của Hoàng đế, trong vòng 10 ngày đã nghĩ ra các biện pháp trừ bỏ 6 điều tệ nạn kể trên, bao gồm “cách chức truy tố”, “vĩnh viễn không bổ nhiệm làm quan nữa” và cả biện pháp xử phạt nghiêm khắc là tử hình đối với những kẻ vi phạm. Khang Hy đã phê chuẩn những biện pháp xử lý ấy.

Hoàng đế Khang Hy làm như thế bởi vì ông tuân theo quy luật của vũ trụ và là người “Kính Trời hiểu Mệnh”. “Trời” ở đây tức là Tự Nhiên, tức là đặc tính của vũ trụ, siêu việt không gian và thời gian. Người Trung Quốc từ xưa đã nhận thức được quy luật “Thiên nhân hợp nhất”, hiểu được rằng có những sức mạnh tiềm ẩn đàng sau mọi thứ trong tự nhiên. Vì vậy, những thiên tai ấy thường là sự cảnh cáo từ Thiên Thượng. Ngày nay những kẻ nắm quyền hành, đối mặt với những hiện tượng dị thường, sóng thần, dịch cúm gia cầm cùng với rất nhiều những thứ gọi là “Tai họa tự nhiên” đã và đang phát sinh, có mấy ai có thể được như Hoàng đế Khang Hy biết hướng vào nội tâm mà suy xét tìm kiếm những lỗi lầm của bản thân mà tu chỉnh, nhờ đó thuận theo Cơ Trời để lại đạt được trạng thái “Thiên nhân hợp nhất”?

Văn hóa Thần truyền: Nhạc Vân trung dũng, nhân từ và hiếu thảo

0

Nhạc Vân, con trưởng của Nhạc Phi, là một viên tướng trẻ tuổi mà trung nghĩa, can đảm, nhân hậu và tận tụy hiếm thấy trong lịch sử Trung Quốc. Ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi trong lòng Nhạc Vân đã mang chí khí to lớn, muốn trở nên giống như cha mình là Nhạc Phi tận trung báo quốc. Anh thông minh, chính trực và đã lập được rất nhiều chiến công. Năm 23 tuổi anh cùng cha bị gian thần Tần Cối vu khống và sát hại. Nhưng tấm lòng son sắt và chính khí cao cả của anh đã viết nên một áng văn chương xúc động lòng người.

Năm Nhạc Phi rời nhà ra tiền tuyến chống quân Kim thì Nhạc Vân mới 7 tuổi. Các quan trong huyện đều đến tiễn biệt Nhạc Phi. Nhạc Vân cũng vội vàng chạy tới, Nhạc Phi thấy vậy hỏi: “Con đến làm gì?”. Nhạc Vân nói: “Con trong lớp học nghe nói mọi người đều đến tiễn cha, con muốn hỏi cha sẽ đi đến nơi nào? Làm việc gì?”. Nhạc Phi nói: “Bởi vì con còn bé, sợ rằng không đành lòng chia lìa nên cha không nói với con. Con đã tới đây rồi, cha bảo con mấy câu này: cha được triệu đi đánh dẹp quân Kim, bảo vệ giang sơn. Con ở nhà cần phải hiếu thuận với bà nội, kính trọng và phụng dưỡng mẹ, trông nom các em, chuyên cần đọc sách”. Nhạc Vân nói: “Con xin ghi nhớ lời cha dạy! Nhưng mà quân Kim ấy không nên giết hết”. Nhạc Phi nói: “Tại sao thế?”. Nhạc Vân nói: “Để lại một nửa chờ con tới đánh”. Nhạc Phi nói: “Nói bậy! Mau về nhà đi!”. Nhạc Vân còn bé, chẳng hề lưu luyến, tung tăng trở về.

Nhạc Vân nhớ kỹ lời dặn dò của cha, hiếu kính với người trên, chăm sóc các em, hàng ngày học văn luyện võ. Với tư chất tuyệt vời, năm 12 tuổi mấy người thầy dạy học cho cậu đều khó lòng trả lời nổi những câu hỏi của cậu, nên từ biệt ra đi. Nhạc Vân một mình theo lịch dạy học của Nhạc Phi học tập kỹ càng, am hiểu nhiều sách binh thư chiến lược. Cậu sốt sắng luyện võ, trong mộng gặp 2 vị tướng quân dạy cách đánh song chùy, cảm giác như trước kia đã từng tinh thông môn ấy rồi. Cậu nhờ người ta chế tạo ra cặp chùy bạc nặng đến 82 cân, say mê khổ luyện không ngừng nghỉ.

Một ngày nghe báo có 5000 quân giặc đến bắt người nhà của Nhạc Phi, hòng lấy đó mà bức bách Nhạc Phi phải đầu hàng. Mọi người không biết phải làm sao, Nhạc Vân nói với bà nội và mẹ: “Không cần phải hoảng sợ! Lần này con sẽ ra ngoài đánh bại chúng”. Bà nội nói: “Cháu chưa hiểu sự tình, còn nhỏ chớ khoác lác như thế!”. Nhạc Vân nói: “Nếu con không giết được hắn, mọi người hãy cứ trốn đi đừng chần chừ”. Nói rồi bèn chỉ huy gia tướng và thôn dân ra nghênh địch. Nguyên soái của quân giặc là Tiết Lễ Hoa Báo xông tới đánh Nhạc Vân. Hắn coi thường Nhạc Vân còn nhỏ tuổi, không ngờ Nhạc Vân nhanh nhẹn khéo léo như thế, thanh đao chưa kịp chém xuống thì đã bị Nhạc Vân đánh văng khỏi lưng ngựa rơi xuống đất. Phó tướng Trương Triệu Nô kinh sợ, cầm rìu nhảy ra đánh Nhạc Vân. Nhạc Vân một chùy thì đỡ nhát rìu, một chùy đánh tới, Trương Triệu Nô đỡ không kịp, chết ngay dưới chân ngựa. Quân giặc thấy chủ soái đã chết, đều quay lưng chạy trốn, Nhạc Vân thắng trận quay về nhà.

Nhạc Vân thấy quân Kim giết hại đồng bào của mình, chà đạp sơn hà cẩm tú thì càng kiên định quyết tâm tòng quân báo quốc. Lúc này anh biết cha mình vì bảo vệ Tống Cao Tông mà bị vây khốn trên núi Ngưu Đầu, tình hình vô cùng khẩn cấp. Anh viết lại vài dòng thư từ biệt bà nội, một mình trong đêm chạy tới núi Ngưu Đầu, xông vào doanh trại quân Kim đánh phá, rồi chạy lên núi. Vừa nhìn thấy bên ngoài doanh trại của cha mình có treo đến 7 tấm thẻ bài ghi mấy chữ “Không đánh” thì vô cùng phẫn nộ, giơ chùy đập nát thẻ bài. Nhạc Phi lâu ngày gặp lại con trai Nhạc Vân, biết đó lại chính là người phá hoại kỷ cương quân đội thì đau lòng khôn xiết. Nhưng vì để giữ vững kỷ cương, Nhạc Phi muốn chém đầu con để giữ nghiêm quân pháp. Các tướng cố sức khuyên can nói: “Nhạc Vân tuổi còn nhỏ, lại mới phạm tội lần đầu. Hơn nữa ta treo miễn chiến bài chỉ là vì trong doanh trại không có ai địch nổi Kim Thiền Tử con trai của Kim Ngột Thuật. Giờ nên cho Nhạc Vân ra trận đánh địch, lập công chuộc tội”. Nhạc Phi đồng ý để cho Nhạc Vân ra trận. Các tướng nhắc Nhạc Vân: “Nếu cháu không cự nổi địch, thì đánh ra khỏi doanh trại quân địch và chạy về nhà với bà nội đi nhé”. Nhạc Vân không phụ lòng kỳ vọng của mọi người, dũng mãnh phi thường, trước mặt hai đạo quân dùng chùy bạc đánh chết Kim Thiền Tử. Quân Nhạc thắng trận, vì giải nguy cho núi Ngưu Đầu mà lập được công trạng lớn.

Trong quân đội nhà họ Nhạc, Nhạc Vân dần dần thành thục, trở thành vị dũng tướng thiếu niên anh hùng. Nhạc Phi nhiều lần đi chinh chiến, Nhạc Vân luôn xông pha đi đầu, đánh luôn luôn thắng, trong quân gọi anh là “Doanh quan nhân” (nghĩa là “Viên quan luôn luôn chiến thắng”). Lúc thu phục Tùy Châu, Đặng Châu, lúc ấy Nhạc Vân mới 16 tuổi, trên đường xung trận đánh đâu thắng đó, không gì cản nổi, và là người đầu tiên bước lên trên tường thành Tùy Châu. Sau đó nhanh chóng chọn quân tiến về phía Bắc, thu phục được Đặng Châu. Khi Kim Ngột Thuật tấn công Hứa Xương, Nhạc Phi lệnh cho Nhạc Vân cầm quân nghênh chiến. Nhạc Vân đánh giáp lá cà với quân Kim, xung phong dẫn đầu, giành được thắng lợi một cách thần kỳ. Quân Kim đại bại, tướng lĩnh lớn nhỏ bị bắt sống đến 78 người. Trận đó Nhạc Vân đã đập tan oai phong của Kim Ngột Thuật, và động viên mạnh mẽ khí thế của Nhạc gia quân. Đối với chuyện này, Kim Ngột Thuật rất kinh hoàng, từng ngửa mặt lên trời thở dài: “Bạt núi dễ, đánh quân Nhạc khó!”. Nhạc Phi còn nhiều lần phái Nhạc Vân lấy lương thực cứu trợ cho nhân dân đang đói khổ, rất được tướng sỹ và trăm họ ủng hộ và yêu mến.

Nhạc Phi có yêu cầu cực kỳ nghiêm khắc với con trai. Một lần Nhạc Vân khoác áo giáp nặng luyện tập chỉ sơ suất 1 chút liền ngã xuống đất, suýt chút nữa đã bị cha chém đầu. Chúng tướng khuyên can mãi, nhưng Nhạc Vân vẫn bị phạt đánh 40 trượng. Nhạc Vân văn võ song toàn, công trạng và thành tích xuất chúng, nhưng Nhạc Phi thường chỉ đề cao chiến công của tướng sỹ, chứ đối với chiến công của Nhạc Vân thì đều không báo cáo lên trên, đồng thời còn nhiều lần ngăn cản triều đình thăng quan cho con trai. Nhạc Vân cũng có cuộc sống giản dị như cha mình, chán ghét chốn quan trường đen tối. Anh thừa hưởng ở cha đức tính trung thành chính trực, dù tuổi còn nhỏ đã biết không màng danh lợi, cho nên đối với việc cha nhiều lần không báo cáo chiến tích thì hết sức thản nhiên. Anh hoàn toàn không để tâm chuyện nhỏ, chỉ thầm mong thu phục Trung Nguyên, thu phục lại sơn hà cẩm tú, cho nên mãi chỉ nhậm chức Vũ dực lang, Tả võ đại phu, Phòng ngự sử Trung Châu … mà thôi. Những hào kiệt ái mộ danh tiếng của Nhạc Vân tìm đến xin tỉ thí võ công, anh đều kết huynh đệ với họ, cùng nhau phò tá cho đất nước.

Tần Cối lấy tội danh “Mạc tu hữu” hãm hại Nhạc Phi. Nghĩ tới Nhạc Vân và thuộc hạ Trương Hiến có oai dũng 1 người chọi vạn người, bèn giả mạo nét chữ của Nhạc Phi viết thư lừa 2 người họ vào ngục. Thuộc hạ của Nhạc Phi là Trương Bảo vào ngục thăm họ, thỉnh cầu rằng: “Chúng ta hãy đánh ra rồi thoát thân”. Nhạc Phi nói: “Từ xưa trung thần không sợ chết, Thiên nhật sáng soi, để xem kẻ gian thần kia có thể hưởng thụ được bao lâu!”. Trương Bảo lại hỏi Nhạc Vân, Trương Hiến, thì cả 2 đều nói: “Là bề tôi thì tận trung, là con thì tận hiếu, cha không ra, 2 người chúng ta làm sao ra ngoài được!”. Vào đêm giao thừa năm 1142, Nhạc Phi, Nhạc Vân, Trương Hiến đồng thời bị Tần Cối giết hại, nhân dân cả nước nghe tin đều khóc thương. Nhân dân tất cả đều căm thù Tần Cối, họ lấy bột mỳ tạo thành hình nhân, bỏ vào vạc dầu, gọi đó là “Rán thịt Cối”. Sau này, mọi người lại dùng sắt thô đúc tượng bọn Tần Cối quỳ gối mãi trước mộ của Nhạc Phi.

Trăm ngàn năm qua, nhân dân thương nhớ 2 cha con Nhạc Phi, Nhạc Vân cùng các vị trung thần lương tướng bao nhiêu, thì cũng căm ghét và ghê tởm bọn gian thần Tần Cối bấy nhiêu! Ngày nay, Giang Trạch Dân và ĐCSTQ đã tạo ra ngục tù oan trái để bức hại Pháp Luân Công, càng ngày càng nhiều người có chí khí đã bước ra kêu gọi ngăn chặn cuộc bức hại tàn khốc lên các học viên Pháp Luân Công. Họ cố gắng cứu giúp những con người thật sự tốt – tuân theo tiêu chuẩn Chân, Thiện, Nhẫn – đang bị tà ác tống giam một cách phi pháp. Chính nghĩa tất thắng, tiểu nhân và tà ác sẽ để lại tiếng xấu muôn đời. Lịch sử và nhân dân sẽ phân biệt được rõ ràng: chính nghĩa là gì, đâu là tà ác, và như thế nào là bản sắc anh hùng!

Đời sau có câu thơ ca ngợi Nhạc Vân: “Niên thiếu uy phong thượng chiến trường, lăng vân tráng khí ngạo thu sương. Vi quốc vi dân chung vĩnh dự, lưu đắc anh danh vạn cổ dương!”. (Tạm dịch: “Còn trẻ oai phong ngập chiến trường, chí anh hùng bay vút tận mây xanh. Tiếng thơm vì dân vì nước lưu truyền mãi mãi, tên tuổi anh hùng được muôn đời ngợi ca”).

Văn hóa Thần truyền: Cảnh giới và tấm lòng “Lo trước khi thiên hạ lo”

0

Phạm Trọng Yêm, một chính trị gia và cũng là văn học gia nổi tiếng thời Bắc Tống trong tác phẩm “Nhạc Dương Lâu ký” đã viết ra mấy câu thơ nổi tiếng lưu truyền muôn thuở : “Bất dĩ vật hỉ, bất dĩ kỷ bi” (Không cảm thấy hài lòng bởi lợi ích vật chất, cũng không cảm thấy buồn phiền cho số phận không may), “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi nhạc nhi nhạc” (Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ). Câu nói có ngụ ý sâu sắc, được các sỹ đại phu chính trực thời cổ đại xem như nguyên tắc xây dựng sự nghiệp, và cũng là cảnh giới tư tưởng mà phần lớn mọi người đều tôn kính.

Phạm Trọng Yêm từ nhỏ đã học tập rất siêng năng, mỗi ngày đều đọc sách đến tận đêm khuya. Ông học các sách kinh điển của nhà Nho như “Thi Kinh”, “Thượng Thư”, “Lễ ký”, “Xuân Thu”, nuôi chí “Đại trượng phu gánh vác trách nhiệm làm lợi nước ích dân”, “Không làm tướng giỏi cũng làm lương y”. Sau này lại chịu ảnh hưởng của dòng tư tưởng Phật gia, kính trọng tin tưởng Thần Phật và Phật Pháp. Ông có tinh thần Tế thế an bang, làm quan thanh liêm chính trực, yêu dân như con, lấy cơ sở lý niệm của nhà Nho “Người nhân từ thì luôn thương người, làm lợi cho thiên hạ” và cảnh giới “Phật tính thì hướng thiện, có lòng từ bi đối với chúng sinh”, xem việc cứu vớt nhân dân trong cảnh khổ làm trách nhiệm của bản thân, yêu quý sinh mệnh, quan tâm đến tương lai của đất nước. Trong thơ ông viết: “Trường đới Nghiêu Thuấn chủ, tận tác hi hoàng dân. Canh điền dữ tạc tỉnh, hy hy thiên vạn xuân”. Ông hy vọng dân chúng có cuộc sống thịnh vượng như thời Nghiêu Thuấn, thiên hạ thanh bình và hạnh phúc.

“Không cảm thấy hài lòng bởi lợi ích vật chất, cũng không cảm thấy buồn phiền cho số phận không may”

Phạm Trọng Yêm làm quan hơn 10 năm, cuộc sống giản dị hết mực, cho dù làm Tể tướng cũng không xây dinh thự cho mình. Có người muốn xây tặng ông một ngôi nhà mới, ông bảo: “Điều mà con người theo đuổi chính là Đạo Nghĩa. Một người nếu trong lòng có Đạo nghĩa thì dù ở đâu trong lòng cũng vui vẻ. Chuyện xây dinh thự các vị không nên nhắc lại nữa”. Phạm Trọng Yêm cũng không mua sắm ruộng đất và bất động sản gì cho con cháu cả, lại dùng tiền của dành dụm để xây dựng trường học, mua ruộng mà cho người ta, lưu lại tấm gương đạo đức cao thượng cho đời sau. Cả đời ông vì chính trực và hay nói thẳng mà mấy lần bị giáng chức, nhưng ông không vì những điều như thế mà đau buồn, quyết lòng không bao giờ thay đổi chí hướng ban đầu. Năm Thiên Thánh thứ 7, Phạm Trọng Yêm vừa mới vào kinh thành nhậm chức Bí các giáo lý, vì dâng sớ phản đối Hoàng Thái hậu phô trương lãng phí nên bị Hoàng Thái hậu giáng chức đuổi ra khỏi kinh thành. Năm Minh Đạo thứ 2, ông nhậm chức Hữu ti gián, bởi vì kiên trì đòi lại công bằng cho người khác mà bị Hoàng đế giáng chức xuống làm quan ở Mục Châu. Năm Cảnh Hữu thứ 2, ông được thăng chức Lễ bộ viên ngoại. Tể tướng lúc ấy là Lữ Di đề phòng việc ông hay can ngăn và nói lời chính trực, có thể làm ảnh hưởng đến sự chuyên quyền của ông ta, bèn tâu xin Hoàng đế đưa Phạm Trọng Yêm đi làm quan Tri phủ Khai Phong. Ông ta còn sai người tới bảo Phạm Trọng Yêm: “Không làm quan giám thị, không nên nhiều lời bàn luận việc nước”. Nhưng Phạm Trọng Yêm trong lòng vẫn quan tâm tới triều đình, không sợ uy quyền, vẫn làm việc vì dân, đúng như những gì ông viết trong bản sớ dâng vua: “Kiên định một tấm lòng, 3 lần bị giáng chức nhưng không hề hối hận”.

“Ở nơi giang hồ xa xôi thì lo cho vua”

Phạm Trọng Yêm nhậm chức ở xa nhưng vẫn lo lắng cho việc quốc gia đại sự. Ông dâng bản tấu hàng vạn chữ là “Thượng chấp chính thư”, đề nghị các biện pháp như “tuyển chọn quan chức có phẩm chất tốt, trừ bệnh lười biếng và kiêu căng, bỏ những kẻ tham nhũng lộng quyền, cẩn thận trong việc tuyển cử giáo dục, đề cử những người tài đức, bảo vệ những quan lại chính trực, bài trừ những kẻ nịnh thần”. Giữ chức quyền cao quý ở nơi triều đình thì lo cho dân chúng. Thời ông nhậm chức Hữu ti gián tại triều đình, có lần phía Đông kinh thành và khu vực sông Trường Giang – Hoài Hà gặp trận đại hạn hán, rồi nạn châu chấu hoành hành. Phạm Trọng Yêm lập tức dâng sớ xin Hoàng đế Nhân Tông phái người đến cứu trợ nhưng Vua không chịu nghe. Ông bèn hỏi Hoàng đế: “Nếu trong cung đói ăn nửa ngày, bệ hạ phải làm sao đây?”. Nhân Tông cảm thấy xấu hổ, bèn phái Phạm Trọng Yêm tới đó cứu trợ thiên tai. Phạm Trọng Yêm ở chỗ cứu trợ, bèn tấu xin miễn giảm thuế cho dân. Ông còn mang cỏ Ô Vị – là thứ cỏ mà nạn dân ăn để cầm hơi – về kinh thành cho hoàng thân quốc thích và toàn thể triều đình để khuyên bảo họ chớ có quên sự đói khổ của nhân dân, để ngăn chặn tận gốc thói xa xỉ hoang phí.

“Tiến cũng lo mà thoái cũng lo”

Thời Phạm Trọng Yêm nhậm chức Tể tướng, khuyên can cho nhà vua, chọn người hiền tài, trừng trị bọn tham quan, một lòng vì dân. Mỗi lần bị giáng chức làm quan địa phương nào, ông cũng đều làm thật tốt, tạo phúc cho nhân dân nơi ấy. Ví như lúc ông đến Thái Châu, Hải Lăng làm quan Diêm thương giám, nhìn thấy con đê biển ở địa phương bởi vì nhiều năm không được tu sửa mà sụp vỡ, nước biển tràn ngập ruộng vườn, hàng vạn nạn dân lang thang không nhà cửa. Ông lập tức dâng thư lên triều đình xin sửa đê. Triều đình chuẩn tấu, điều ông làm Huyện lệnh huyện Hưng Hóa phụ trách việc sửa đê. Phạm Trọng Yêm đem người tới bờ biển Đông xây dựng thành công con đê chắn sóng, bảo vệ an toàn cho tính mạng và tài sản của nhân dân. Người dân bị nạn lưu vong trở về nhà. Mọi người vô cùng cảm kích công ơn của quan huyện, đặt tên con đê chắn sóng là “Đê Phạm Công”. Nhiều nạn dân huyện Hưng Hóa sau sự kiện này đổi họ theo họ Phạm của Phạm Trọng Yêm.

Tuân theo nguyên tắc “Không lừa dối”

Tân khoa Trạng Nguyên người Đặng Châu, tên là Cổ Ảm đến bái chào Phạm Trọng Yêm, thỉnh giáo ông đạo lý trị nước và xây dựng sự nghiệp. Phạm Trọng Yêm nói với ông: “Quân bất ưu bất hiển, duy bất khi nhị tự, khả chung thân hành chi.” (Tạm dịch: Chỉ có “không lừa dối” là đạo lý nên theo đuổi suốt đời). Cổ Ảm sau này làm quan tới chức Ngự sử Trung thừa, cả đời làm quan thanh liêm chính trực, gặp chuyện đều dám nói thẳng. Không lừa dối, tức là cương trực, không thiên lệch, quang minh lỗi lạc. Không lừa dối tức là không dối vua, không dối dân, không lừa gạt lương tâm của chính bản thân mình. Hai chữ “không dối” là điều mà Phạm Trọng Yêm cả đời làm quan, làm người, xử sự, tề gia … luôn tuân thủ nghiêm ngặt. Ông đối xử với người ta khoan dung nhân hậu, lấy việc giúp đỡ người khác làm vui, lúc ấy có rất nhiều người tài đức đều là nhờ ông chỉ đạo và đề bạt mà trưởng thành lên. Tới địa phương nào, ông đều vỗ về dân chúng, thực hành nền chính trị nhân từ, phong tục địa phương bởi được ông cảm hóa cũng có sự thay đổi, mọi người ai cũng tôn sùng danh dự và tiết tháo, còn xấu hổ khi nói chuyện về tiền tài và chuyện được mất. Mỗi người đều biết liêm sỷ, không dám làm điều xằng bậy.

Lo cho nước lo cho dân, phẩm cách và tư tưởng “Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” của Phạm Trọng Yêm đã ảnh hưởng đến đông đảo nhân dân. Những người có chí hướng và các chính nhân quân tử đều hiểu thấu và tôn sùng nguyên tắc ấy. Nhưng ngày nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) lại đi ngược lại quy luật của vũ trụ, phản lý tính, phản chính thống, phản đạo đức, coi mạng người như cỏ rác, vì vậy đang bị lịch sử đào thải. Những người tỉnh giác giảng rõ chân tướng cho mọi người, giúp mọi người nhận ra rõ ràng bản chất tà ác của ĐCSTQ, từ đó hoàn toàn thoát khỏi sự trói buộc của nó. Giúp người ta lựa chọn quang minh và chính nghĩa, ấy chính là thể hiện lòng từ bi và ý thức trách nhiệm đối với người khác.

Văn hóa Thần truyền: sửa chữa lỗi lầm và cải thiện bản thân một cách dũng cảm và nhanh chóng

0

Người xưa nói: “Con người không phải là Thánh hiền, ai có thể không phạm sai lầm? Làm sai biết sửa, còn gì tốt bằng”. Cho dù là người quân tử cũng khó tránh khỏi từng có lỗi lầm. Song, người có trí tuệ chân chính thì giỏi tự mình suy ngẫm và cải thiện bản thân hơn so với người thường, chính vì vậy mà anh minh và vĩ đại.

Đầu tiên, thái độ phản ứng đối với những ý kiến của người khác là cực kỳ quan trọng. “Nghe người khác kể ra lỗi lầm của mình thì vui mừng” là đức tính mà các vị Thánh hiền luôn tôn sùng. Đường Thái Tông là vị Hoàng đế giỏi chiêu nạp người khuyên can nhất trong lịch sử Trung Quốc, là gương mẫu cho đời sau học tập. Ông khuyến khích khuyên can, mà đối với những ai chỉ trích chỗ sai lầm của mình cũng đều bao dung không quở trách. Các quan đại thần đưa ra ý kiến hoặc chỉ ra lỗi lầm của ông, ông đều luôn luôn thành khẩn nói:“Lời của khanh chân thành và có lý, đó là chỗ không tốt của ta”.

Có lần các quan đại thần nghe có người chỉ trích không đúng, bèn nói với Đường Thái Tông: “Lời chỉ trích của hắn là sai, cần phải trừng phạt hắn”.

Đường Thái Tông nói: “Không thể được”.

Các đại thần hỏi: “Thưa vì sao vậy?”.

Vua trả lời: “Nếu Trẫm trừng phạt người này, về sau sẽ không có ai dám kể ra lỗi lầm của Trẫm nữa”.

Có Thánh Vương, có hiền thần, cho nên chính trị sáng sủa, quốc thái dân an, khai sáng được một thời Thiên triều thịnh thế.

Không kể là can ngăn hay chiêu nạp người can gián, cần phải dũng cảm nhanh chóng, cần phải đặt ích lợi của trăm họ lên hàng đầu. Tề Tuyên Vương xây dựng cung điện lớn, xây dựng 3 năm vẫn chưa xong, lại không có đại thần nào khuyên can cả. Lúc ấy có một nhân sỹ tên gọi là Xuân Cư sợ cứ như vậy mãi sẽ làm tổn hại đến thực lực quốc gia, liều chết bái kiến Tề Tuyên Vương, nói: “Nếu như nhà vua làm việc mà không suy nghĩ đến khả năng chịu đựng của nhân dân, vua ấy có thể gọi là hiền đức chăng?”.

Tề Tuyên Vương nói: “Không hiền đức”.

Xuân Cư lại nói: “Hiện nay Ngài thi công cung điện lớn, diện tích hơn trăm mẫu, cung điện có 300 cửa lớn, một nước lớn như nước Tề đây mà xây 3 năm vẫn chưa xong nổi. Quần thần lại không có một ai dám đứng ra khuyên can, xin hỏi Đại Vương như vậy có thể gọi là có bầy tôi không?”.

Tề Tuyên Vương trầm ngâm một lát rồi trả lời: “Chẳng khác nào không có bầy tôi”.

Xuân Cư nói: “Thần xin được cáo lui”. Nói xong quay đầu bước ra ngoài. Tề Tuyên Vương bừng tỉnh ngộ, vội vàng đứng dậy kêu: “Xuân Tử, hãy trở về! Khanh sao đến khuyên can Trẫm chậm trễ như thế? Ta lập tức hạ lệnh đình chỉ thi công cung điện”. Liền quay qua bảo viên quan chuyên chép sử: “Đem chuyện này viết vào trong sách lịch sử: Ta muốn thi công cung điện lớn, rất không hiền đức, chính là Xuân Tử đã ngăn ta lại”.

Sửa đổi hướng thiện còn cần phải có tấm lòng bao dung, tâm cảnh khoáng đạt. Thời kỳ Hoàng đế Khang Hy triều Thanh, ở Đồng Thành có người tên là Trương Anh làm quan đến chức Văn Hoa Đại học sỹ kiêm Thượng thư bộ Lễ. Hàng xóm của ông là gia đình Nghiệp Thị lang, một viên quan đồng triều. Một lần, 2 nhà phát sinh tranh chấp vì ranh giới 1 bức tường, vợ của Trương Anh lập tức viết thư phái người gửi cho chồng. Trương Anh đọc thư lo lắng, viết hồi âm với vợ như sau: “Thiên lý gia thư chích vi tường, nhượng nhân tam xích hựu hà phương? Vạn lý trường thành kim do tại, bất kiến đương niên tần thủy hoàng”. (Tạm dịch: Ngàn dặm xa xôi viết thư chỉ vì 1 bức tường, nhường người ta 3 thước thì có làm sao? Vạn Lý Trường Thành nay vẫn còn kia, vậy mà nhà Tần đâu còn nữa). Thế là Trương phu nhân bảo gia đình lui bức tường về phía sau 3 thước. Nhà họ Nghiệp rất cảm động, cũng ra lệnh cho người nhà lui bức tường về phía sau 3 thước. Từ đó về sau, Trương, Nghiệp 2 nhà xóa bỏ được sự ngăn cách, trở thành thông gia với nhau.

Kỳ thực, một người có khả năng sửa đổi hướng thiện, mới có thể được xem là tự làm chủ được bản thân mình. Cần phải thực sự làm được như thế, mà không động tâm hối hận phiền não, càng không thể che giấu lỗi lầm. Sửa đổi cải thiện, là nguyên tắc mà bất kỳ ai và vào bất kỳ lúc nào đều cần phải tuân theo. Đặc biệt là đối với những người phạm tội lỗi lớn thì ý nghĩa càng thêm trọng đại. Cổ nhân nói: “Cái thế công lao, đương bất đắc nhất cá căng tự; di thiên đại tội, đương bất đắc nhất cá hối tự”. (Tạm dịch: “Công lao vĩ đại, không thể bù đắp được lỗi kiêu căng; tội lớn tày trời, không đáng kể nếu biết đường hối cải”). Nếu một người biết cảm thấy tự hổ thẹn với lòng mình, ấy là sáng suốt. Ngược lại, nếu tự cho mình luôn là đúng, không vượt ra khỏi cái vòng vây của “Tư lợi” và “Tự ngã”, thì sẽ phải chịu cảnh cô đơn mà gieo gió gặt bão.

Chuyên quyền bạo ngược như Chu Lệ Vương, vui thích tự cho mình “có tài năng chặn trước những lời chỉ trích”, làm nhân dân hết sức bất bình. Ông ta lại muốn bịt miệng nhân dân, tìm người giám sát theo dõi những ai chỉ trích mình. Bất kể là quan đại thần hay dân thường, ai mà bị cáo giác thì liền bị khép vào chỗ chết. Trên đường đi mọi người ai gặp cũng đều không dám nói chuyện, càng không dám bàn luận gì. Ông ta “Đề phòng cái miệng của dân chúng còn hơn đề phòng lũ lụt”. 3 năm sau, đất chặn dòng sông gây ra lũ lụt, người dân không còn nhẫn nại được nữa, đoàn kết nhau lại vây đánh hoàng cung muốn giết Chu Lệ Vương. Bọn vệ sĩ cũng không muốn bảo vệ ông ta. Chu Lệ Vương bị cô lập hoàn toàn, cuối cùng phải lưu đày đến đất Trệ.

Lịch sử như một tấm gương, thái độ khác nhau mà đối đãi với các ý kiến bất đồng dẫn đến kết quả cũng khác nhau. Muốn hiểu được đạo lý “Quá dã, nhân giai kiến chi, cập kỳ canh dã, nhân giai ngưỡng chi” (Người ta ai chẳng sai lầm, nhưng nếu kịp thời sửa chữa sẽ được người khác kính trọng và ngưỡng mộ). Không sợ phạm sai lầm, mấu chốt là đối đãi với vấn đề ấy như thế nào. Sợ nghe những lời trái tai, một khi nghe thấy những chỗ không vừa ý liền đùng đùng nổi giận, thậm chí còn cậy thế ức hiếp người khác, tìm cách trả thù, kết quả luôn là hại mình hại người. Lấy tâm thái đúng đắn mà đối mặt với tất cả mọi sự, biết phục thiện, không ngừng thăng hoa cảnh giới tư tưởng, như thế mà tiến bước thì sẽ không có bất kỳ chướng ngại nào có thể ngăn cản ta được.

Văn hóa Thần truyền: Thanh cao chính trực, chí công vô tư

0

Dương Phổ là người Hồ Quảng, Thạch Thủ (nay thuộc Hồ Bắc) dưới triều Minh. Ông từng nhậm chức Hàn lâm biên soạn, sau làm tới chức Tể tướng. Ông nổi tiếng vì phẩm cách thanh cao, chất phác chính trực, được người đời sau ca tụng là vị Thừa tướng tài đức một đời.

Vào mùa đông năm Vĩnh Nhạc thứ bảy, Dương Phổ nhậm chức Thái tử tẩy mã kiêm chức quan Tổng giám khảo kỳ thi Hội, phụ trách quản lý việc thi cử và nhậm chức của sỹ tử trong cả nước. Tại quê nhà Thạch Thủ, Cao Lăng, hai người em trai của ông tên là Dương Hạo và Dương Lâm thấy anh trai nắm quyền cao, cảm thấy công danh của mình có tương lai đầy hứa hẹn. Các bạn học của họ đều tới nịnh bợ tâng bốc họ, ngay cả con trai của quan Huyện lệnh và các quan lại khác cũng tới kết thân và nhờ vả. Họ bỏ tiền đưa hai người tới kinh thành, muốn nhờ hỏi thăm xem tình hình đề thi năm nay sẽ thế nào.

Hai người tới nhà anh trai, bắt đầu nói về chuyện thi cử năm nay, rồi xin anh trai tiết lộ một chút bí mật đề thi cho họ. Dương Phổ nghe xong bừng bừng giận dữ, quở trách họ tâm tư không chính trực, giảng rõ rằng những kẻ không có thực học mà ra làm quan thì chỉ có hại nước hại dân, huống hồ việc tiết lộ đề thi là phạm tội phải tru di toàn tộc, không lẽ các em không muốn sống nữa hay sao! Hai người xấu hổ vô cùng, Dương Phổ bèn viết lại câu thơ “Cao Lăng thanh khí vạn cổ vân” trao cho họ mang về, chiếu theo đó mà cảnh tỉnh bản thân và trui rèn tâm chí.

Sau này bởi vì chuyện sai sứ đến nghênh đón Hoàng đế bị chậm trễ, lại bị Hán Vương hãm hại nên Thái tử bị giam vào ngục 10 năm. Dương Phổ là quan trực thuộc Thái tử quản lý, cho nên cũng bị liên đới vào tù. Ông tuy thân nằm trong lao ngục nhưng tâm tư vẫn bao trùm thiên hạ, hàng ngày trong nhà lao đọc sách mãi không ngừng.

Sau khi Hoàng đế Nhân Tông lên ngôi, Dương Phổ được tha, được giao cho chủ trì thi công lầu Hoằng Văn. Hoàng đế Tuyên Tông lên ngôi, Dương Phổ được thăng chức làm Thiếu bảo, Đại học sỹ điện Vũ Anh, là quan nhất phẩm.

Hai người em trai ảnh hưởng bởi chuyện anh trai bị giam oan 10 năm trong ngục mà mất sớm. Con trai lớn của hai người đều đã quá tuổi lập thân, nhiều lần thi Hương không đậu, hai người bèn lên kinh đô tìm Dương Phổ. Dương Phổ nhớ tới hoàn cảnh cha chúng chết sớm, gia cảnh nghèo khổ không cầm được nước mắt. Hai người cầu bác trai nói đôi lời với Bộ lại, để cho họ ban đầu làm chức quan sáu phẩm hay bảy phẩm gì đó cũng được. Dương Phổ nghe xong lắc đầu, nói rằng triều đình chỉ có thể thông qua khoa cử mà chọn hiền tài. Đặc biệt lúc nhậm chức cần phải được Hoàng thượng phê chuẩn, nếu thông qua quan hệ cá nhân mà sắp xếp thì chính là phạm pháp, ông không thể làm như thế được. Ngay cả Dương Đán cũng không phải là ngoại lệ. (Dương Phổ có năm người con trai, trong đó bốn người chết yểu, chỉ có người con thứ hai tên là Dương Đán còn sống)

Hai người vô cùng thất vọng, bắt đầu khóc lớn, nói rằng con trai và người thân của các quan lại khác đều được tiến cử làm quan, nhưng Dương Phổ ân cần tha thiết dạy bảo họ: muốn người khác đi theo đường Chính thì trước tiên mình phải làm gương, cần phải chọn những người tài giỏi làm quan. Ông còn nói người làm quan cần phải luôn luôn lo nghĩ cho dân, còn nếu không sẽ có hại cho quốc gia và cũng tự hại mình, làm tổn danh tổn Đức. Các cháu không nên suy nghĩ như thế nữa. Nói xong bèn viết tặng một câu đối “Công quyền khởi khả vi tư hành”, kèm theo 1000 lạng bạc cho họ trở về nhà phụng dưỡng mẹ và yên tâm làm ruộng.

Có một ngày, con trai Dương Đán của ông từ quê nhà tới kinh thành thăm cha. Ông hỏi con trai: “Con từ quê tới kinh thành, trên đường có nghe danh viên quan huyện nào là thông thái sáng suốt hay không?”. Người con trai bực tức nói: “Con đang muốn tố cáo, Huyện lệnh huyện Giang Lăng tên gọi Phạm Lý là không hiền minh nhất. Con đường đường là con trai của Tể tướng, các quan Huyện lệnh khác đối với con đều hết sức trọng vọng, chỉ có ông ta là đối với con tùy tiện thất lễ …”. Nghe con trai nói xong, Dương Phổ nghĩ Huyện lệnh huyện Giang Lăng có thể là một vị quan thanh liêm chính trực không phô trương lãng phí, không nịnh bợ nơi quyền quý. Ông nghiêm khắc phê bình con: “Huyện lệnh huyện Giang Lăng xem con trai Tể tướng giống như con trai của dân thường, đó chính là chỗ thông thái và sáng suốt của ông ấy. Con làm sao có thể trách ông ta được? Cha thấy vấn đề là tâm tư của con không chính. Sau này không được suy nghĩ như thế”.

Dương Phổ lặng lẽ ghi nhớ tên của Phạm Lý, về sau hỏi thăm mới biết Phạm Lý là con người cực kỳ thanh liêm, rất được dân chúng yêu quý. Ông đích thân đề bạt Phạm Lý làm quan Tri phủ Đức Châu. Không lâu sau lại để cho ông ta làm quan Tả bố chính sử Quý Châu.

Thái Hoàng Thái hậu nhớ tới chuyện Dương Phổ vì bị liên lụy tiên đế mà phải ngồi tù, gia đình bị hại, chỉ còn một con trai thứ tên là Dương Đán còn sống, bèn hạ chỉ ban cho Dương Đán ban đầu nhậm một chức quan sáu phẩm là Đại lý tự Thiếu khanh, đợi tương lai sẽ cất nhắc. Dương Đán nhậm chức rồi thì vui mừng không tự chủ được, thường nói toạc ra thân phận con cháu Công khanh ngay giữa chỗ đông người. Dân chúng nghe vậy tránh đường vái chào. Dương Phổ biết chuyện thì nghiêm khắc dạy bảo, còn chỉ rõ ra những quy tắc làm quan, chủ yếu là không được hà hiếp nhân dân, cần phải xem trăm họ như cha mẹ. Ông viết câu đối “Hảo quan tu vi nhụ tử ngưu”, lệnh cho con treo trong phòng ngủ để tự kiểm điểm lời nói và việc làm bản thân. Dương Đán nhờ sự giám sát dạy bảo của cha bắt đầu siêng năng trong công tác, thận trọng từ lời nói đến việc làm, được mọi người khen ngợi.

Lúc này trong triều đấu đá tranh quyền kịch liệt. Bởi vì vua Anh Tông còn nhỏ tuổi, bọn hoạn quan chuyên quyền, kéo bè kết đảng. Dương Phổ làm Tể tướng, vì để bảo toàn đại cục nên dẫn đầu làm gương tinh giản biên chế, quyết định đưa Dương Đán về quê làm ruộng. Ông một lòng đại nghĩa, vì dân vì nước mà khuyên nhủ con trai, viết lại mấy câu thơ và câu đối “Lương dân cẩn ký gia phong thuần” để dạy bảo và động viên con.

Năm Chính Thống thứ sáu, Dương Phổ về quê viếng mộ, thấy trong gian nhà chính treo đủ bốn câu đối của mình: “Cao lăng thanh khí vạn cổ vân, công quyền khởi khả vi tư hành, hảo quan tu vi nhụ tử ngưu, lương dân cẩn ký gia phong thuần”. Ông làm quan 50 năm, quyền cao chức trọng nhưng rất nghiêm khắc với bản thân, là một tấm gương về đạo làm quan và dùng người tài đức, vừa là gương mẫu trong việc tề gia và dạy bảo con cái.

Ngày nay rất nhiều người làm quan chỉ vì tư lợi bản thân mà chọn toàn người thân thích, kéo bè kết phái, đố kỵ với người tài, vu cáo hãm hại người tốt, không những là trái với Thiên lý mà còn làm mất lòng dân. Những người chân chính có đạo đức cao thượng và tiết tháo, thì trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều có thể xem nhẹ bản thân, lấy đất nước và nhân dân làm căn bản trách nhiệm của mình, lúc nào cũng có thể lấy Đức phục nhân.

Văn hóa Thần truyền: Lấy Đức làm đầu, không nhớ hiềm khích năm xưa

0

Trong bất kỳ ngành nghề nào, thì Đức hạnh đều cần phải được coi trọng, cũng cần phải tuân thủ các quy phạm đạo đức tương ứng, ấy mới là xã hội bình thường của nhân loại. Bởi vì trọng Đức tích Đức là gốc rễ của đạo làm người, Sư Phụ Lý của Pháp Luân Đại Pháp cho chúng ta biết được rằng:

“Đức tích lại từ các kiếp trước. Vua, quan, phú, quý đều từ đức mà ra. Vô đức, vô đắc; mất đức tức là sẽ mất tất cả. Vậy ai muốn quyền lực và của cải trước tiên cần phải tích đức. Bằng lao động vất vả và làm việc thiện, người ta có thể thu lấy đức từ quần chúng”. (“Tinh tấn yếu chỉ” – “Của và Đức”).

Đối với người tu luyện mà xét, Đức thật sự là một loại thực tại vật chất, có màu trắng. Nó có thể mang lại cho người ta phúc báo, còn làm chuyện xấu lại sinh ra nghiệp lực màu đen có thể đem lại tai họa cho người ta. Vì thế, làm thầy thì phải trọng đạo làm thầy, làm kinh doanh cần trọng đạo kinh doanh, làm nghề y cần trọng y đức, làm quan thì trọng đạo làm quan, học võ thì trọng võ đức …. Dưới đây là một câu chuyện kể về danh y triều Minh tên là Vạn Toàn trọng y đức, không nhớ thù xưa.

Vạn Toàn là một thầy thuốc nổi tiếng vào thời nhà Minh. Ông sinh năm Hoằng Trì thứ 11 tại vùng mà nay là Hồ Bắc, La Điền. Ông chẳng những y thuật cao siêu, mà y đức càng khiến cho người ta khâm phục. Ông làm người khoan dung độ lượng, không nhớ kể thù oán cũ, đối với những người có hiềm khích với mình lúc trước cũng đều đối xử một cách bình đẳng, tận tâm tận lực cứu chữa.

Ngày trước Vạn Toàn bất hòa với một người đồng hương tên là Hồ Nguyên Khê. Về sau, đứa con trai 4 tuổi của Hồ Nguyên Khê bị mắc một căn bệnh nan y, ho khan, hộc máu, cả nhà họ Hồ đi khắp nơi cầu danh y chữa trị nhưng đều không có chuyển biến. Không còn cách nào khác đành phải đến cầu Vạn Toàn cứu chữa.

Vạn Toàn “chỉ quan tâm đến chuyện sống chết của người ta, chứ không nhớ gì thù oán”, ngay lập tức đến xem bệnh cho con trai của Hồ Nguyên Khê, bảo rằng bệnh của con trai ông ta có thể trị được, nhưng cần có thời gian một tháng. Nhờ phương thuốc của Vạn Toàn, đứa bé dùng 5 tễ thuốc thì sức khỏe đã khá hơn.

Nhưng Hồ Nguyên Khê trước sau vẫn có tâm dè chừng đối với Vạn Toàn, cho rằng giữa bản thân và Vạn Toàn vốn có hiềm khích, nghĩ thầm chắc ông không thể dùng hết tâm sức để trị bệnh cho con trai mình, đồng thời còn nghi ngờ Vạn Toàn cần dùng quá nhiều thời gian trị bệnh như thế chính là có âm mưu, bèn chuyển sang nhờ một thầy thuốc khác tên là Vạn Thiệu chữa trị.

Có người khuyên Vạn Toàn: “Hắn không cần ông chữa, ông chỉ việc bỏ đi là xong”. Vạn Toàn trả lời: “Ông ta chỉ có một đứa con trai, ngoài tôi ra không ai có thể trị được bệnh cho cậu bé. Tôi đi rồi, ông ta sẽ không tìm tôi nữa, nếu như chữa trị chậm trễ cho đứa bé thì dù không phải là tôi hại chết nó, nhưng đó cũng là lỗi lầm của tôi!”. Ông lại nói tiếp: “Tôi muốn ở lại xem xem thầy thuốc khác chữa trị như thế nào, nếu họ chữa trị được thì tôi sẽ ra đi, còn nếu chữa trị có sai lầm thì tôi nhất định phải ngăn cản lại. Nếu thật sự là ngăn không được, thì tôi rời đi cũng không muộn”.

Xem Vạn Thiệu kê đơn thuốc mới, Vạn Toàn cho rằng không thích hợp chút nào, nếu đứa bé uống vào thì tính mạng sẽ bị nguy hiểm, bèn thành khẩn chỉ ra vấn đề. Nhưng Vạn Thiệu không chịu tiếp thu, cố chấp vào ý kiến riêng của bản thân. Hồ Nguyên Khê ở bên cạnh cũng hùa theo không chịu nghe. Vạn Toàn nghiêm chỉnh nói với Vạn Thiệu: “Tôi vì lo lắng cứu đứa bé, chứ không phải là đố kỵ ông đâu!”.

Vạn Toàn thấy ý kiến của mình không được chấp thuận, không đành lòng thấy chết mà không cứu. Trước khi Vạn Thiệu cho đứa trẻ uống thuốc, Vạn Toàn lại gần nhẹ nhàng xoa đầu đứa trẻ và nói với người cha: “Trước tiên cho nó uống thử một chút thuốc thôi. Thương tâm thay nếu tật bệnh tái phát thì làm thế nào được đây?”.

Sau khi đứa bé uống một chén thuốc nhỏ, quả nhiên đúng như Vạn Toàn đoán trước, bệnh tình lại tái phát nặng lên. Đứa bé khóc nói: “Con uống thuốc của Vạn Toàn tiên sinh đã đỡ được rất nhiều, cha lại mời người này tới, là muốn giết con sao”.

Hồ Nguyên Khê giờ mới bắt đầu hối hận, đành phải ôm nỗi ray rứt để lần thứ 2 cầu cứu Vạn Toàn. Vạn Toàn không hề so đo, nói với ông ta: “Nếu sớm nghe lời tôi nói, thì giờ đây đã không phải hối hận. Muốn tôi chữa trị, thì cần phải vứt bỏ tâm nghi ngờ, thành tâm phó thác cho tôi. Hãy cho tôi thời gian 1 tháng”.

Thế là Hồ Khuyên Khê hoàn toàn phó thác đứa bé cho Vạn Toàn chữa trị. Vạn Toàn chỉ cần 17 ngày là đứa trẻ đã khỏi hẳn bệnh. Cả nhà Hồ Nguyên Khê vô cùng cảm kích ân đức của ông.

Văn hóa Thần truyền: Từ Đạt không kiêu ngạo và phô trương

0

Từ Đạt sống ở Hào Châu dưới thời nhà Minh, ngay từ thuở nhỏ đã kiên cường bất khuất, dũng mãnh hơn người. Sau này ông trở thành công thần dựng nước của triều Minh, được phong tước là Quốc Công, làm quan đến chức Thừa tướng.

Từ Đạt đi chinh chiến khắp nơi, dẹp yên bờ cõi, mỗi năm đều ra trận từ mùa xuân, đến cuối đông mới quay trở về. Sau khi trở về Từ Đạt dâng trả tướng ấn, hoàng đế Chu Nguyên Chương ban cho ông thời gian nghỉ ngơi, làm yến tiệc khoản đãi ông, xem ông như một người anh em từ thuở hàn vi. Từ Đạt được vua tin yêu, lại có công lao thành tích to lớn như thế nhưng không hề bởi vậy mà kiêu ngạo và buông thả, trái lại còn càng ngày càng khiêm tốn hơn. Đức hạnh tu dưỡng của ông quả là đáng khâm phục.

Hoàng đế có lần ôn tồn bảo: “Từ huynh công lao rất lớn, nhưng chưa hề được an cư ổn định. Có thể ban thưởng Cựu Để cho ông ấy”. Ý của nhà vua là ban thưởng những dinh thự thời còn làm Ngô Vương cho Từ Đạt, nhưng ông nhất quyết từ chối. Hoàng đế thấy ông khiêm tốn như thế rất vui, bèn sai người xây dựng ngay tại phía trước Cựu Để một dinh thự tặng ông, trong miếu thờ của dinh thự ghi rõ 2 chữ “Công lớn”.

Từ Đạt trong lĩnh vực cầm quân thì rất nghiêm minh, suy xét tinh tế. Ông còn có thể đồng cam cộng khổ với tướng sỹ, ai nấy đều rất kính phục ông. Vì thế mà trong chiến trận ông luôn luôn chiến thắng. Ông cũng không bao giờ giết oan người vô tội, không tham lam không bạo ngược, còn nghiêm khắc cấm binh lính xâm phạm và bạo lực đối với các tù binh. Ông nghiêm cấm quân đội làm tổn thương và quấy rối dân chúng, khiến ai nấy đều kính trọng. Trở lại triều đình, ông cũng chẳng nói kể gì công lao, chẳng phô trương thanh thế. Lúc đi đâu ông thường tự mình đánh xe, còn khi ở nhà ông có cuộc sống hết sức bình thường giản dị, dễ gần. Ông rất trọng đãi các Nho sinh, đối với họ rất hòa thuận và vui vẻ.

Hoàng đế từng ca ngợi Từ Đạt: “Vâng mệnh xuất chinh ra trận, thành công khải hoàn mà không hề kiêu ngạo phô trương, không đam mê nữ sắc, không tham tiền của, thanh liêm chính trực, trong sáng tuyệt vời như nhật nguyệt, thì chỉ có Đại tướng quân mà thôi”.

Đáng buồn thay, từ cổ chí kim, bao nhiêu người bởi tranh công đoạt lợi, kể lể công lao rồi sinh lòng kiêu ngạo, xa hoa phóng túng. Nhẹ thì bị giáng chức lưu đày, nặng thì tự mang tới họa sát thân, không được chết một cách yên lành. Như Từ Đạt không kiêu căng tự mãn, cung kính, khiêm tốn như vậy, quả là đáng quý, cho nên từ trên xuống dưới, từ Hoàng đế cho đến bình dân trăm họ đều vô cùng kính phục ông. Sau khi ông qua đời, Hoàng đế tạm thôi thiết triều, đích thân tới dự tang lễ, thương tiếc đau buồn mãi không thôi. Vua truy phong ông làm Trung Sơn Vương, đích thân viết văn bia cho mộ của ông. Vua sai người phụ lễ tại Thái miếu, ở miếu Công thần thì sai người vẽ chân dung của ông. Hoàng đế còn ban tặng tước Vương cho gia đình ông.

Văn hóa Thần truyền: Đất nước có được người tài đức thì bình an, mất người tài đức thì loạn lạc

0

Thời đại của Đường Huyền Tông vừa là thời đại “Khai Nguyên thịnh thế” và cũng là thời “Loạn An Sử” (An Sử chi loạn) trong lịch sử, là một ví dụ điển hình của nguyên tắc “Có được người tài đức thì đất nước bình an, đánh mất người tài đức thì thiên hạ loạn lạc”.

Đường Huyền Tông Lý Long Cơ, khi còn nhỏ có chí lớn, từng lời nói từng việc làm đều rất có chủ kiến sáng suốt, nhờ bình định được “Vi thị chi loạn” (cuộc nổi loạn của nhà họ Vi) mà được lập làm Thái tử. Sau khi lên ngôi vua, ông đầu tiên quyết tâm diệt trừ bè đảng của Thái Bình công chúa chuyên quyền bạo ngược, còn xử lại các nghi án để giải oan cho người vô tội. Ông đổi niên hiệu thành Khai Nguyên, chứng tỏ rõ ý muốn tự mình chăm lo việc nước, quyết tâm phục hưng sự nghiệp vĩ đại của nhà Đường.

Ông thấy lúc ấy tác phong và uy tín của quan lại thời ấy rất hỗn loạn, triều chính thì hủ bại, liền tỏ ý muốn chọn người hiền tài làm Tể tướng. Mọi người đều nói ông “Có con mắt sắc sảo biết chọn người hiền đức”, các vị Tể tướng tài giỏi nổi tiếng như Diêu Sùng, Tống Cảnh, Trương Cửu Linh, Hàn Hưu đều là do ông tự mình tuyển chọn và bổ nhiệm cả.

Diêu Sùng làm việc quyết đoán, bởi tâu trình 10 điều kiến nghị rất có ích cho đất nước nên được coi trọng, được phong làm Tể tướng. 10 điều kiến nghị ấy bao gồm: Tạo điều kiện để mọi người được tự do ngôn luận và phát biểu ý kiến xây dựng, ban thưởng xứng đáng cho các vị đại thần chính trực, và chớ lấy quyền hành mà mưu lợi cá nhân. Đường Huyền Tông đều nghe theo những lời đề nghị của Diêu Sùng.

Sau Diêu Sùng đến Tống Cảnh. Tống Cảnh cũng rất coi trọng việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhân tài. Mặc dù ông nắm giữ quyền cao chức trọng trong triều đình, nhưng không bao giờ vì tình riêng mà làm trái pháp luật, mà ngược lại, đối với thân thích của mình có yêu cầu còn nghiêm khắc hơn nữa. Một lần, một người chú họ của ông trong cuộc tuyển chọn người làm quan cho Bộ lại, nói với quan chủ trì việc tuyển chọn về mối quan hệ của mình với Tống Cảnh, hy vọng nhờ thế mà được chiếu cố đặc biệt. Chuyện này đến tai Tống Cảnh, chẳng những ông không nói tốt cho người chú họ mà còn bảo Bộ lại không được để cho ông ta làm quan.

Đường Huyền Tông không chỉ biết chọn lựa mà còn biết kính trọng người tài đức. Diêu Sùng, Tống Cảnh một lòng lo cho đất nước, Đường Huyền Tông xem họ cũng giống như các vị quan Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối nổi tiếng những năm đầu thời đại nhà Đường. Mỗi lần gặp, Đường Huyền Tông đều đứng dậy tiếp đón, lúc họ rời đi thì vua cũng đích thân tiễn biệt.

Trương Cửu Linh được người ta gọi là “Tể tướng áo vải”, cũng chính là nhờ tài đức xuất chúng của bản thân mà được Đường Huyền Tông trọng dụng. Trương Cửu Linh sau khi làm Tể tướng cũng giống như Đường Huyền Tông, trọng người tài đức chứ không quan tâm đến xuất thân và gia thế. Ông luôn luôn chủ trương cần phải công bằng trong việc tuyển chọn người tài, chú trọng vào Đức hạnh. Đồng thời, đối với những lỗi lầm của Đường Huyền Tông, ông cũng kịp thời chỉ ra và khuyên can, chứ không vì ơn đề bạt mà giấu diếm sự thật.

Đầu thời Đường Huyền Tông bởi vì giỏi việc nhìn người và chọn người hiền đức làm quan, còn hết lòng trọng đãi họ, cho nên xung quanh nhà vua lúc ấy tụ tập rất nhiều người hiền tài. Lúc ấy tình hình chính trị rất sáng sủa, xã hội yên ổn, kinh tế phồn vinh hơn bao giờ hết. Triều đại nhà Đường tiến vào thời kỳ cực thịnh, người đời sau gọi là “Khai Nguyên thịnh thế”. Trong sử sách có ghi chép lại: vào những năm Khai Nguyên ấy “Trong nước giàu có, giá cả hàng hóa rất phải chăng. Trên đường cái có rất nhiều cửa tiệm phục vụ rượu thịt cho người đi đường. Bưu điện có nhiều con lừa chở thư, đi hàng ngàn dặm mà không cần lính đưa thư”. Nhà thơ Đỗ Phủ trong tác phẩm “Ức tích” có viết: “Nhớ ngày thịnh vượng thời Khai Nguyên ấy, một thị trấn nhỏ cũng có đến hàng vạn gia đình. Gạo lúa trĩu hạt còn bắp ngô trắng nõn, kho lương thực của công hay của tư đều tràn đầy hàng hóa”.

Nửa sau thời Đường Huyền Tông, nhà vua càng ngày càng kiêu ngạo, càng ngày càng ưa nghe lời a dua xu nịnh, ham thích hưởng lạc, tin tưởng mù quáng và trọng dụng bọn gian thần Lý Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, cuối cùng dẫn tới loạn An Sử, thời đại thịnh thế huy hoàng thuở trước đã không còn nữa.

Lý Lâm Phủ rất rành suy đoán tâm ý của Đường Huyền Tông. Có lần Đường Huyền Tông muốn từ Lạc Dương về Trường An, nhưng Tể tướng Trương Cửu Linh nói thu hoạch vụ lúa mùa thu còn chưa hoàn thành xong, nếu mà đi như thế sẽ làm quấy rối dân chúng, ảnh hưởng đến việc sản xuất. Thừa dịp Trương Cửu Linh đã rời đi, Lý Lâm Phủ nói với Đường Huyền Tông rằng Trường An và Lạc Dương là Đông cung và Tây cung của bệ hạ, bệ hạ muốn đi muốn về lúc nào tùy thích, không cần phải đợi chờ về sau. Còn nếu gây trở ngại cho việc thu hoạch vụ thu của người nông dân, thì chỉ cần miễn thu thuế của họ là được. Đường Huyền Tông thích chí, theo ý của Lý Lâm Phủ cứ thế mà đi, lại còn càng ngày càng tín nhiệm ông ta. Lý Lâm Phủ tìm cơ hội vu cáo hãm hại nhóm các đại thần trung nghĩa Trương Cửu Linh, khiến Đường Huyền Tông bãi chức họ và đưa Lý Lâm Phủ lên thế chỗ.

Sau khi Lý Lâm Phủ lên cầm quyền thì đố kỵ người tài đức, kết bè kết đảng, bài trừ những người trái ý, hãm hại người tốt. Ngoài miệng thì lời ngon tiếng ngọt, nhưng trong lòng thì nham hiểm ác độc. Câu thành ngữ “Khẩu Phật tâm xà” cũng là từ đây mà sinh ra. Ông ta bịt miệng dư luận, có lần còn đe dọa các quan rằng: “Các ngươi bình thường chắc cũng đã từng thấy con ngựa dùng để tế lễ rồi chứ? Chỉ cần ngoan ngoãn theo lệnh làm việc, thì có thể được ăn bổng lộc của quan tam phẩm, đãi ngộ cao. Còn nếu mà hí vang, thì lập tức sẽ bị loại bỏ, đến lúc đó có hối hận cũng không kịp”.

Sau khi Lý Lâm Phủ bệnh chết thì Dương Quốc Trung lên cầm quyền, làm cho chính trị xã hội càng thêm đen tối rối ren hơn nữa. Đường Huyền Tông cưng chiều Quý phi Dương Ngọc Hoàn, bỏ bê việc triều chính, cuộc sống vô cùng xa xỉ suy đồi. Dương Quốc Trung là anh của Dương Quý Phi, quyền thế không ai so bằng, đã là Tể tướng lại còn kiêm thêm hơn 40 chức vụ khác nữa. Cả nhà họ Dương bắt đầu lên như diều gặp gió.

Dương Quốc Trung 1 tay che trời, triều chính hỗn loạn. Lúc trời mưa to ầm ầm, Huyền Tông hỏi các quan về tình hình thiên tai, Dương Quốc Trung lại tìm một cây mạ giống to khỏe đưa cho Huyền Tông ngó xem, bảo rằng trời mưa to nhưng không có ảnh hưởng gì đến thu hoạch mùa màng. Ở dưới có viên quan báo cáo tình hình thiên tai, thỉnh cầu nhà vua cứu trợ. Dương Quốc Trung nổi khùng cách chức người ấy, ra lệnh phải trừng trị nặng tay. Từ đó về sau không ai còn dám nói lời chân thực nữa. Hắn kéo bè kết đảng, tham ô ăn hối lộ, không việc xấu nào không làm.

Khi các mâu thuẫn trong xã hội trở nên ngày càng gay gắt, thì nhóm quân phiệt An Lộc Sơn và Sử Tư Minh làm ra “Loạn An Sử”, đem quân làm phản lại nhà Đường. Bởi vì quân đội nhà Đường có quá nhiều tướng lĩnh ngang ngược tàn ác, cho nên quân đội không có chút nhuệ khí nào, không đánh mà chạy. Quân phản loạn rất nhanh chóng chiếm được một vùng đất rộng lớn, trực tiếp uy hiếp Đồng Quan – một “cửa lớn phía Đông” của kinh thành. Trong triều không ai dám đương đầu với quân địch, Huyền Tông đành phải triệu mời vị tướng già đã về hưu là Ca Thư Hàn, tạm thời cầm 20 vạn quân chắp vá ô hợp ra tiền tuyến để trấn giữ Đồng Quan.

Ca Thư Hàn dâng sớ lên nhà vua nói: “An Lộc Sơn không được lòng dân, chỉ cần chúng ta giữ vững thành trì, thì nội bộ của chúng sẽ phát sinh mâu thuẫn đấu đá lẫn nhau. Đợi đến khi chúng đã suy yếu, chúng ta mới xuất quân đánh dẹp, nhất định có thể chiến thắng. Bây giờ mà xuất binh chắc chắn sẽ rơi vào ổ phục kích của chúng”. Lúc đó tại Hà Bắc xa xôi, Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật cũng dâng thư gấp cho vua, nói: “Đồng Quan là nơi hiểm yếu, đủ để cố thủ vững vàng, không thể xuất kích. Đợi quân cứu viện tới, chỉ cần một trận là có thể thắng được”. Nhưng, Dương Quốc Trung đố kỵ quyền cao chức trọng của Ca Thư Hàn, sợ ông sau này sẽ thành chướng ngại bất lợi đối với mình, bèn nhiều lần xúi giục Đường Huyền Tông sai Ca Thư Hàn xuất quân ra đánh. Đường Huyền Tông tin lời Dương Quốc Trung, liên tiếp hạ chiếu ra lệnh Ca Thư Hàn phải xuất binh. Ca Thư Hàn đành phải ra khỏi cửa đón đầu địch, quả nhiên trúng phải mai phục, quân Đường thua to. Ca Thư Hàn bị bắt, bởi quyết không chịu đầu hàng nên bị An Lộc Sơn giết hại. Đồng Quan thất thủ.

Đường Huyền Tông kinh hoảng chạy trốn qua Tứ Xuyên. Trên đường đi tướng sỹ quân cấm vệ nổi loạn, yêu cầu Đường Huyền Tông phải hành quyết Dương Quốc Trung và Dương Ngọc Hoàn ngay lập tức, rồi tạ tội với đất nước. Đường Huyền Tông không còn cách nào khác, đành phải giết 2 anh em họ Dương. Lúc ấy triều Đường đã suy sụp, chiến loạn liên miên, dân chúng lầm than cơ cực.

Nhìn chung trong lịch sử, việc có được hay đánh mất những người hiền tài có quan hệ mật thiết đối với sự an nguy của quốc gia. Bất kể là trong thời cuộc nào, chỉ cần kẻ cầm quyền kiêu căng cậy tài, thất Đức làm bừa, gần kẻ tiểu nhân xa người quân tử, thì sớm muộn gì cũng đi đến diệt vong. Bởi vì không có Đức là mối họa lớn nhất của con người. Lấy lịch sử mà soi xét, lấy người ta mà soi xét, thì chỉ có chú trọng việc tu thân dưỡng tính mới có thể bảo trì được tâm hồn tỉnh giác và trong sáng, mới có thể phân biệt đúng sai, đi theo cái thiện lánh xa điều ác. Không để cho người xấu có đất hoành hành, mới có thể đem lại thái bình thịnh vượng cho đất nước, tạo phúc cho nhân dân, được người đời sau ca ngợi.

Văn hóa Thần truyền: Thần Phật chỉ xem trọng lòng người

0

Vào thời vua Đường Trung Tông (khoảng năm 705-707), tại khu vực Hồ Bắc, Tương Dương (Trung Quốc) người ta chuẩn bị đúc một pho tượng Phật lớn. Có rất nhiều người giàu có và tín ngưỡng Thần Phật đều tới dâng hiến tiền bạc cho việc ấy. Những người tổ chức đối với những người ủng hộ tiền của đều có ghi chép sổ sách đàng hoàng, để sau này sẽ khắc tên ghi công vào bia đá.

Có một bà cụ vô cùng nghèo khổ nhưng nóng lòng muốn được hiến tặng. Bà chỉ có một đồng tiền mà mẹ đẻ tặng cho bà thời con gái. Bà đã nâng niu giữ gìn đồng tiền ấy không nỡ dùng, cất kỹ suốt 60 năm trời. Ấy là tài sản duy nhất mà bà có.

Nghe tin người ta quyên tiền đúc tượng Phật, bà cụ cung kính mang đồng tiền ấy vượt qua một quãng đường xa xôi để đến dâng tặng. Nhưng người phụ trách việc đăng ký tên tuổi nói với bà: “Tôi chẳng thể đăng ký cho 1 đồng của bà được”. Bà cụ không biết làm sao, đành nhân lúc người khác không để ý lặng lẽ đến gần lò đúc tượng và tung đồng tiền vào trong đó. Bà thành kính chắp tay cầu nguyện rồi trở về nhà.

Vài ngày sau người ta dỡ lò lấy tượng ra. Một viên quan bỗng nhiên nhìn thấy một đồng tiền đính vào chính giữa ngực của pho tượng Phật. Có một đại phú ông trông thấy như thế trong lòng rất khó chịu bèn yêu cầu giũa bay đồng tiền kia đi. Thế là người ta gọi thợ thủ công đến để gọt giũa đồng tiền ấy.

Nhưng gắng sức gọt giũa suốt một đêm, đến sáng hôm sau nhìn lại thì đồng tiền vẫn còn y nguyên như cũ, vẫn đính chặt vào giữa ngực bức tượng Phật. Mấy nhà sư thấy thế nói: “Chuyện này thật là kỳ diệu. Thần Phật nhận xét con người ta thì chỉ xem trọng tấm lòng thôi. Bà cụ ấy hết lòng thành kính cho nên mới thành ra như thế”. Từ đó về sau không ai còn dám động đến đồng tiền ấy nữa.

Đồng tiền ấy mãi mãi nằm trên ngực bức tượng Phật.

(chuyện trong sách “Thái Bình quảng ký”)

Văn hóa Thần truyền: Lã Mông Chính khuyên người ta an mệnh

0

Trong nền văn hóa do Thần truyền thụ lại cho nhân loại chúng ta, mọi người đều cho rằng vận mệnh của con người là do Trời cao đã định đoạt từ trước. Người ta cần phải kính Trời hiểu mệnh, cần phải biết rằng chỉ có tích Đức giữ Đức mới có thể được phúc báo. Một vị danh quan thời nhà Tống tên là Lã Mông Chính vốn khoan dung độ lượng, nhân hậu nhưng cương trực. Ông làm Tể tướng suốt 3 đời vua, từng làm một bài văn vần tên là “Phá diêu phú” trong đó đưa ra rất nhiều ví dụ về những câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử, lấy đó để khuyên người đời: tất cả mọi sự trong thế gian này đều do Thiên thượng nắm trong tay, người ta cần phải hiểu Thiên mệnh, bất cứ việc gì cũng nên thuận theo tự nhiên, còn những việc cướp đoạt và tranh đấu vô nghĩa kia chẳng thể nào thay đổi được điều gì. Người ta nói ông từng lấy thiên văn chương ấy để giảng dạy cho Thái tử. Thời niên thiếu, Thái tử vô cùng kiêu ngạo không coi ai ra gì, nhưng sau khi xem xong tự nhiên biến đổi thái độ, trở nên bình thường, khiêm tốn hơn rất nhiều. Sau này Thái tử được lên ngôi kế vị ngai vàng, là vua Tống Chân Tông. Sau đây là toàn văn “Phá diêu phú” của Lã Mông Chính:

“Trời có lúc thịnh lúc suy khó lường, người ta có những chuyện họa phúc bất ngờ. Con rết có trăm chân, chạy không kịp con rắn. Gà trống có đôi cánh, nhưng bay không hơn gì con vịt. Con ngựa đi ngàn dặm đường, nhưng không có người cưỡi thì chẳng thể tự đi được. Người ta dù có chí khí ngút trời, nhưng vận số chưa đến thì cũng không làm nổi việc gì. Có câu: Con người sống ở thế gian, nếu được giàu sang phú quý cũng không thể phóng túng dâm đãng, dù nghèo khổ cũng không thể thay đổi chí hướng. Văn chương nổi tiếng trên đời, Khổng Tử cũng có lần bần cùng khốn khổ ở nước Trần. Võ lược siêu quần, Thái Công 1 cũng có lúc câu cá chờ thời ở sông Vị. Nhan Uyên 2 nào phải là người hung ác, nhưng chết sớm. Đạo Chích 3 đâu phải là người lương thiện, mà lại sống lâu. Vua Nghiêu là một vị Thánh vương sáng suốt, lại sinh ra đứa con hư hỏng. Cổ Tẩu 4 là kẻ ngu muội và ngoan cố nhưng lại sinh ra người con rất hiếu thảo. Trương Lương vốn là thường dân áo vải, nhưng gặp được Tiêu Hà thì trở thành quan huyện. Yến Tử, thân hình cao chưa đầy 5 thước 5 mà được phong làm Tể Tướng nước Tề; Khổng Minh sống trong túp lều tranh, mà có thể làm Quân sư cho nhà Thục Hán.

Sở Vương tuy hùng mạnh, cuối cùng phải tự vẫn ở sông Ô giang; Hán Vương tuy yếu thế, mà lại có được giang sơn vạn dặm. Lý Quảng có oai phong bắn được hổ dữ, nhưng đến già vẫn không được phong tước; Phùng Đường có tài cưỡi rồng, mà suốt đời không có cơ hội. Hàn Tín khi chưa gặp thời, nghèo đến độ thường ngày không có đủ ba bữa cơm ăn, nhưng khi vận may đến, thì lưng đeo ngọc ấn dài 3 thước, một khi số mạng suy sụp thì cũng phải chết vào tay một người phụ nữ.

Có người lúc đầu nghèo khổ rồi sau lại giàu có; có người lúc còn trẻ yếu đuối mà về già lại tráng kiện. Có người bụng đầy văn chương, đến già cũng không thi đỗ; có người tài nghệ và học vấn nông cạn nhưng lại thi đỗ từ lúc còn thiếu niên. Cung nữ trong hoàng cung, gặp vận không may thì cũng thành kỹ nữ và hầu thiếp; gái lầu xanh gặp thời thế lại trở thành phu nhân quý phái. Thanh xuân mỹ nữ, lại lấy người ngu xuẩn làm chồng; khôi ngô tuấn tú lại lấy người vợ thô xấu. Rồng chưa gặp thời, cũng lặn cùng đám cá đám rùa; người quân tử khi thất thế cũng phải chắp tay dưới kẻ tiểu nhân. Khi nghèo khó áo quần rách nát, vẫn phải bảo tồn tác phong nghi lễ; khi gặp phải chuyện buồn, vẫn phải giữ cho tâm bình tĩnh. Thời thế chưa đến, chỉ nên an phận nghèo; nếu tâm chân thành không lừa dối, tất nhiên sẽ có ngày được mở mày mở mặt. Người quân tử ban đầu nghèo khổ, nhưng vẫn có cốt cách phong thái trời cho; kẻ tiểu nhân bất chợt giàu sang, thì vẫn cứ là người thấp kém.

Thiên Đường không gặp thời, thì mặt Trời mặt trăng không tỏa sáng; Đất chưa gặp thời, thì cây cỏ không sinh sôi; khi nước không gặp thời, thì sóng gió sẽ nổi lên; khi con người không gặp thời thì vận may không đến. Phúc và lộc của con người, trong số mạng đã được an bài định sẵn, giàu sang phú quý có ai mà chẳng muốn? Người ta nếu không theo căn cơ Bát tự 6, có thể nào làm quan làm tướng được không?

Trước kia ta cư ngụ ở Lạc Dương, xin ăn của các nhà sư, tối ngủ trong một hốc đá đục bên sườn núi, quần áo không đủ che thân, thức ăn không đủ no lòng, người trên thì khinh ghét, kẻ dưới thì chán ngán. Đời sống của ta bần tiện, chẳng phải vì ta không tốt. Bây giờ ta ở chốn triều đình, làm quan đến cực phẩm, ở địa vị Tam Công, địa vị chỉ khom lưng dưới một người mà đứng trên cả ngàn vạn người, có quyền quất roi phạt trăm quan, có quyền chém kẻ nào không tốt. Quần áo có gấm vóc ngàn rương, thức ăn hàng trăm món ngon vật lạ, hễ ra ngoài là có tráng sĩ cầm côn bảo vệ, khi về nhà là có giai nhân hầu rượu, người trên yêu mến ta, kẻ dưới ủng hộ ta. Đời sống của ta phú quý, chẳng phải vì tài năng của ta, mà đó là thời của ta! Cũng là vận của ta! Cũng là Mệnh của ta!

Than ôi! Con người sống trên thế gian, phú quý không thể cố dùng đến tận cùng, bần tiện không thể tự lừa dối bản thân, bởi vì Thiên Địa tuần hoàn, xoay vần mãi mãi “.

Chú thích:

Phá Diêu: cái hốc đá bên sườn núi mà người nghèo dùng làm nơi ở.

[1] Thái Công: Khương Tử Nha, là hiền thần đời Đông Chu.

[2] Nhan Uyên: là một học trò của Khổng Tử.

[3] Đạo Chích: tên của một tướng cướp.

[4] Cổ Tẩu: cha của vua Thuấn.

[5] Thước: đơn vị đo lường thời xưa của Trung Quốc = 1/3 mét

[6] Bát tự: 8 chữ Thiên Can và Địa Chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh của một người. Thường dùng để làm căn cứ đoán số mệnh trong một số phép toán quái.